NHỮNG BÀI VIẾT CỦA HỒ NGỌC THẮNG
Sự thật đã được chứng minh
Ông Hồ Ngọc Thắng là người Ðức gốc Việt Nam, là cộng tác viên của Báo Nhân Dân các năm gần đây. Ðó là một trong những lý do để ông trở thành mục tiêu vu cáo, bịa đặt của một số địa chỉ truyền thông và cá nhân thiếu thiện chí ở nước ngoài. Ðáng tiếc là căn cứ vào các vu cáo, bịa đặt đó, tháng 8-2017, ông bị nơi làm việc sa thải. Song ông quyết tâm bảo vệ mình trước tòa án. Và tháng 3-2018, quyết định sa thải đã được thu hồi, mọi quyền lợi của ông được khôi phục. Bài viết dưới đây được chính tác giả Hồ Ngọc Thắng gửi đến Báo Nhân Dân cho thấy một số nét chính của sự việc từng được các thế lực thù địch với Việt Nam.
Ngày 9-8-2017, tôi nhận quyết định tạm dừng làm việc, nhận giấy triệu tập đến Cơ quan Liên bang phụ trách di cư và tị nạn (BAMF) của CHLB Ðức vào ngày 10-8-2017. Tại BAMF, tôi được biết lý do triệu tập là hai trạng thái (Status) tôi công bố trên Facebook cá nhân, một số bài báo và thư của một số người tố cáo tôi, với nội dung như: cho rằng tôi bình luận phiến diện theo ý của Chính phủ Việt Nam; trả lời phỏng vấn của Tổng Giám đốc Ðài Tiếng nói Việt Nam (VOV), là cộng tác viên Báo Nhân Dân, được trao nhiều giải thưởng; so sánh đường lối đối ngoại của Chính phủ Ðức với chiến tranh ở Việt Nam; không che giấu sự trung thành đối với Việt Nam, đăng bài trên Báo Nhân Dân để phê phán dân biểu Ðức Patzelt (Pát-xê) và Vũ Quốc Dụng; trong các bài viết đã sử dụng kiến thức thu thập từ công việc tại Cơ quan Liên bang, tức là không tôn trọng nguyên tắc trung lập về chính trị…
Các câu hỏi của đại diện BAMF đều được tôi trả lời thấu đáo. Tuy nhiên, ngày 23-8-2017 qua đường bưu điện, tôi nhận quyết định sa thải, với lý do là các cáo buộc mà ban lãnh đạo cho tôi biết hôm 10-8-2017. Tình huống này làm tôi hiểu rằng, cơ quan không có cách hành xử nào khác, họ không thể chỉ tiếp nhận phản biện của tôi thông qua lời nói.
Như vậy, sự việc phải được một bên thứ ba độc lập tiến hành kiểm tra nghiêm túc để bảo đảm tính chất một nhà nước pháp quyền. Và bên thứ ba chỉ có thể là tòa án, quan tòa. Ngày 28-8-2017 tôi đệ đơn khiếu nại tại Tòa án Gera (bang Thüringen - Ðức). Sau khi thụ án, Tòa án yêu cầu nơi ra quyết định sa thải tôi trình bày chi tiết lý do dẫn đến quyết định sa thải với chứng cứ cụ thể. Ðầu tháng 12-2017, tôi nhận được phần trình bày tỉ mỉ lý do sa thải, xem thư tố cáo của các cá nhân. Về cơ bản, những cáo buộc đưa ra hôm 10-8-2017 vẫn được nhắc lại, được coi là bằng chứng của thủ tục kiện tụng. Dự kiến phiên tòa sẽ tiến hành ngày 22-2-2018.
Ngày 28-12-2017, tôi gửi tới Tòa án lời phản biện và chứng cứ. Tôi khẳng định Status bày tỏ suy nghĩ, bình luận mà tôi công bố trên Facebook cá nhân là một ý kiến khách quan, bảo đảm tính trung lập, nguồn thông tin sử dụng là từ Báo miền Nam Ðức và hãng DPA. Bản dịch tiếng Ðức của status này mà bị đơn đưa ra rất không chính xác, câu chữ sử dụng để “kết tội” tôi đều được dịch không đúng nội dung. Tiếp đó tôi khẳng định chưa bao giờ trả lời phỏng vấn của ông Tổng Giám đốc VOV. Trong văn bản giải thưởng báo chí đối ngoại của Việt Nam ghi Hồ Ngọc Thắng là cộng tác viên, nhưng khái niệm cộng tác viên ở Việt Nam hoàn toàn không tương ứng với khái niệm này ở Ðức. Vì ở Ðức, người được gọi là cộng tác viên phải ký hợp đồng, ký cam kết, thỏa thuận về thù lao… Trên thực tế, tôi là tác giả tự do, hoạt động độc lập, không ký hợp đồng, không ký cam kết, thỏa thuận thù lao,… với bất kỳ tờ báo nào ở Việt Nam. Xem xét hai bài báo tôi được trao giải thưởng sẽ thấy tôi đã tuyên truyền cho Nhà nước CHLB Ðức. Bài được trao giải A của Báo Nhân Dân năm 2015 là tổng thuật giới thiệu về công trình nghiên cứu của Viện Institut der deutsche Wirtschaft Köln - một viện nghiên cứu danh tiếng ở Ðức, với bạn đọc Việt Nam. Bài được trao giải thưởng báo chí đối ngoại năm 2015 ca ngợi chuyến thăm của Thủ tướng Việt Nam theo lời mời của Thủ tướng Ðức, ca ngợi quan hệ hợp tác giữa hai quốc gia, vạch rõ thủ đoạn của Vũ Quốc Dụng lợi dụng cái gọi là phiên điều trần của Quốc hội Ðức để xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Tôi có lý khi phê phán dân biểu Ðức ông Patzelt. Tôi công khai tỏ thái độ trung thành với Tổ quốc Việt Nam, song điều đó không có nghĩa tôi không trung thành với nước Ðức. Vì với tôi, Việt Nam là mẹ đẻ, Ðức là cha nuôi, một người con nghiêm túc phải yêu cả mẹ đẻ và cha nuôi của mình. Tôi công bố các bài báo và status trên Facebook với tư cách một công dân bình thường, chỉ có người khác coi tôi là chuyên gia luật, cho dù tôi đã học luật, từng nghiên cứu khoa học về luật, nhiều năm nay vẫn xuất hiện trước tòa án với tư cách luật sư đại diện quyền lợi của một cơ quan thuộc Chính phủ Ðức.
Đầu tháng 1-2018, BAMF cho tôi biết: Kết quả kiểm tra, ý kiến phản biện, chứng cứ tôi đưa ra cho thấy những lý do dẫn đến quyết định sa thải tôi là không có cơ sở, BAMF muốn hủy quyết định sa thải. Như vậy, nếu hủy quyết định sa thải, tôi sẽ tiếp tục làm việc hơn một năm nữa mới đến tuổi nghỉ hưu. Tuy nhiên, BAMF cho rằng, việc tôi tiếp tục đi làm là bất cập với cả hai bên, cho nên BAMF kêu gọi tôi chấp nhận đề nghị và kết thúc công việc tại BAMF vào ngày 31-3-2018, Chính phủ sẽ trả cho tôi một khoản tiền đền bù bảo đảm đầy đủ thu nhập như tôi vẫn làm việc; tuy nhiên tôi phải cam kết tuyệt đối giữ bí mật về con số cụ thể; đồng thời tôi sẽ nhận được một đánh giá tốt về cống hiến trong 27 năm làm việc, lời cảm ơn của BAMF, bộ phận nơi tôi làm việc sẽ tổ chức chia tay với tôi trong tháng 3-2018. Nếu đồng ý với đề nghị, tôi chỉ cần thông báo đến Tòa án Gera về thỏa thuận, Tòa án sẽ không ra phán quyết. Và tôi chấp nhận đề nghị này, vì qua đó tôi đã được phục hồi 100% về phương diện pháp lý, chính trị, tài chính. Và ngày 1-2-2018, Tòa án Gera ra nghị quyết xác nhận thỏa thuận giữa hai bên, và kết thúc thủ tục kiện tụng.
Ngày 15-3-2018, cơ quan đã tổ chức gặp mặt chia tay, và tại đó, trước cán bộ và nhân viên, thủ trưởng chi nhánh đã cảm ơn tôi về những cống hiến trong 27 năm làm việc. Các đồng nghiệp chúc mừng, chia sẻ thắng lợi của tôi. Ngày 6-4-2018, tôi đã nhận được bản nhận xét của lãnh đạo cơ quan về quá trình làm việc, trong đó viết rõ: “Trong khi thực hiện các công việc trong chức trách của mình, ông Hồ (Hồ Ngọc Thắng - người dịch) tỏ ra có kiến thức chuyên môn vượt trội và đã vận dụng thành công các kiến thức này. Thể hiện qua việc ông nhanh chóng nhận biết và phân tích vấn đề một cách kỹ lưỡng. Ông thường xuyên làm việc một cách đáng tin cậy, chuẩn xác, chủ động từ sáng kiến và sẵn sàng nhận nhiệm vụ với chất lượng cao. Ông Hồ (Hồ Ngọc Thắng - người dịch) có thể diễn đạt rõ ràng các sự việc và truyền tải một cách thuyết phục. Khả năng phán đoán của ông được thể hiện qua tư duy rõ ràng và hợp lý, điều đó đã giúp ông có thể đưa ra các phán quyết chắc chắn. Ông cũng luôn linh hoạt, thích nghi có hiệu quả với những điều mới mẻ, và đã làm việc với cống hiến to lớn, theo đuổi mục tiêu với sự kiên trì, đạt được kết quả tốt ngay cả khi khối lượng công việc nặng nề. Chúng tôi luôn thấy rất hài lòng với những thành quả mà ông đã đạt được. Tinh thần làm việc của ông Hồ (Hồ Ngọc Thắng - người dịch) luôn ở mức hoàn hảo, đồng thời ông luôn đồng cảm và lắng nghe một cách cầu thị. Vì thế, ông đã được cấp trên và đồng nghiệp đánh giá rất cao. Bên cạnh đó, ông Hồ (Hồ Ngọc Thắng - người dịch) còn thể hiện tinh thần hỗ trợ, hợp tác trong cơ quan, luôn sẵn sàng hỗ trợ người khác, và chấp nhận sự phê bình. Qua Bản nhận xét này, chúng tôi cảm ơn ông Hồ (Hồ Ngọc Thắng - người dịch) vì đã cùng làm việc lâu năm, chúc ông tiếp tục đạt nhiều thành tích, có mọi điều tốt đẹp trong cuộc sống riêng tư và sự nghiệp của ông trong thời gian tiếp theo”.
Vậy là tới tháng 8-2017, tôi đã làm việc hơn 27 năm tại BAMF. Vào ngày làm việc đầu tiên, tôi được giao nhiệm vụ là một quyết định viên độc lập (tiếng Ðức: Einzelentscheider), sau 5 năm tôi đã được giao thêm vai trò là một đại diện của BAMF trong các thủ tục xét xử trước tòa án hành chính. Ngoài ra, trong hơn hai thập kỷ qua, tôi vẫn được giao trách nhiệm giúp đỡ về chuyên môn với một số nhân viên mới vào làm việc. Trước năm 2012, do quy định của cơ quan, tôi không được xuất hiện trên phương tiện truyền thông, mạng xã hội. Sau khi có quy định mới, từ năm 2013 tôi tham gia Facebook và bắt đầu viết báo. Nhiều bài báo, ý kiến đã thể hiện rõ ràng thái độ của tôi với một số người lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do báo chí để xuyên tạc Việt Nam. Vì thế, tôi trở thành “cái gai” trước mắt họ, và sự phối hợp giữa một số người làm báo bất lương tại một số địa chỉ truyền thông ở Ðức và phương Tây, kết hợp một số trang Facebook cá nhân tổ chức chiến dịch bịa đặt, dựng chuyện để vu cáo, vu khống, thóa mạ tôi vừa qua là cách họ tiến hành nhằm “nhổ cái gai Hồ Ngọc Thắng”, rồi qua báo chí, họ đã thể hiện sự hỉ hả như thế nào khi tôi bị sa thải. Nhưng như người Việt Nam vẫn nói, “bàn tay không che nổi mặt trời”, rốt cuộc mọi cố gắng của một liên minh ma quỷ đã thất bại thảm hại, sự thật đã được chứng minh, công lý được thực hiện. Có thể nói, sự kiện liên quan đến tôi vừa qua càng cho thấy điều hiển nhiên là trên trái đất này, cái xấu không bao giờ có cơ hội cản bước những người lương thiện!
https://nhandan.com.vn/binh-luan-phe-phan/su-that-da-duoc-chung-minh-322628/
——————————
Ông M.Pát-xê đến Việt Nam để làm gì ?
Sáng 23-3, trong nhóm người đứng trước địa điểm Tòa án nhân dân TP Hà Nội tổ chức xét xử một phiên tòa sơ thẩm, có mặt một người ngoại quốc là ông M. Patzelt (M.Pát-xê) đến từ CHLB Đức. Sự có mặt của ông ta là điều bất bình thường, và từ CHLB Đức, tác giả Hồ Ngọc Thắng gửi tới Báo Nhân Dân bài viết bàn về sự kiện này.
Ông M.Patzelt là nghị sĩ Quốc hội và là thành viên Ủy ban Nhân quyền Quốc hội CHLB Đức. Vừa qua ông đến Hà Nội, và sáng 23-3 ông tìm cách vào nơi Tòa án nhân dân TP Hà Nội tiến hành phiên xét xử sơ thẩm hai bị cáo về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”. Theo bản tin Hãng truyền thông Đức - DPA phát hôm 23-3, ông nghị sĩ nói rằng, ông bị từ chối với tư cách quan sát viên có mặt trong phòng xét xử, “tuy vậy tôi vừa lòng” vì đã “ủng hộ qua sự hiện diện”. Trên Bản tin cập nhật (News Ticker) ngày 23-3 của mình, ông viết: “Tôi đã cố gắng để được phép tham dự phiên xử với tư cách quan sát viên, nhưng không được. Lời từ chối được viện dẫn lý do có một đại diện EU đã được chấp thuận. Tuy nhiên, sau đó tôi thấy việc tôi không được tham dự phiên xử không phải là điều bất lợi mà là một điều hay. Nhờ vậy mà tôi có cơ hội trao đổi ý kiến tường tận với các nhà hoạt động nhân quyền khác, và hỗ trợ cuộc phản đối của họ ở trước tòa án…”!
Phát biểu trên đây đã lộ rõ chủ ý của ông M.Patzelt đến Việt Nam để “hỗ trợ cuộc phản đối”, chứ không phải là để quan sát. Chủ ý này được trình bày cụ thể, rõ ràng hơn khi ông (không biết vì hoang tưởng hay ngạo mạn?) phát biểu: “Tôi nghĩ rằng với sự có mặt của tôi sẽ giúp cho được tuyên trắng án hoặc án sẽ được giảm nhẹ”. Đã sinh sống nhiều năm tại CHLB Đức, tôi chưa thấy nghị sĩ Quốc hội Liên bang nào ra nước ngoài mà lại tự coi mình có “sức nặng” đủ để gây sức ép lên một phiên tòa của nước khác, có thể giúp bị cáo “trắng án hoặc giảm nhẹ”!? Việc làm này không những lạm dụng đặc quyền của nước sở tại giành cho người nước ngoài, và theo ý nghĩa nhất định, còn can thiệp thô bạo vào việc nội bộ của nước khác. Sự có mặt của người nước ngoài trong một phiên tòa tổ chức tại bất kỳ quốc gia nào cũng là vấn đề phải được xem xét, đôi khi là thủ tục bắt buộc, không phải hễ người nước ngoài nào muốn vào là sẽ phải cho vào, dù chỉ là quan sát viên. Theo dõi trên báo chí tôi được biết tại phiên tòa ông M.Patzelt muốn tham dự có đại diện EU, đại diện Đại sứ quán các nước Mỹ, Ô-xtrây-li-a, Ca-na-đa ở Việt Nam, phóng viên một số hãng thông tấn,… và họ có mặt một cách hợp pháp. Hình ảnh ông M.Patzelt tay khua khua tấm hộ chiếu trước mặt nhân viên cảnh sát trước cổng nơi tổ chức phiên tòa trong đoạn vi-đê-ô-clíp công bố trên in-tơ-nét cho thấy có lẽ ông M.Patzelt đã đến một nơi đang tiến hành thực thi pháp luật của Việt Nam mà không tìm hiểu pháp luật Việt Nam? Lẽ ra trước khi giơ tấm hộ chiếu đề nghị được dự phiên tòa, ông M.Patzelt cần tìm hiểu Bộ luật Tố tụng hình sự nước CHXHCN Việt Nam để thấy ông không có tư cách tham dự; và lưu ý, ở CHLB Đức, sự cẩn trọng như vậy luôn được tuân thủ rất nghiêm ngặt. Tôi nghĩ, việc một vị nghị sĩ nước ngoài tỏ ra xem thường pháp luật Việt Nam là không thể chấp nhận. Lời nói, hành động của ông M.Patzelt đã buộc tôi phải đưa ra câu hỏi về động cơ thật sự của ông? Đánh giá sự kiện này, trong entry có nhan đề Martin Patzelt là ai?, blogger Karel Phung - một người Việt ở CHLB Đức, viết: “Ông ta nghĩ sự có mặt của ông ta sẽ khiến cho quan tòa Việt Nam phải run sợ mà tha bổng cho NHV. Có vẻ ông ta bị hoang tưởng nặng, ông ấy quyền cao hơn cả luật pháp, cao hơn tất cả các quan tòa ở Việt Nam, hoặc Việt Nam là thuộc địa của Đức!”. Bình luận về việc có nghị viên nước ngoài đứng trước khu vực phiên tòa tay giơ khẩu hiệu đòi trả tự do cho bị cáo, một số blogger ở Việt Nam viết: “Không biết họ có nghĩ hành động của mình là sự can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ Việt Nam. Hành động của họ chẳng khác gì ra mặt công khai hậu thuẫn trực tiếp cho các đối tượng vi phạm pháp luật của Việt Nam?”, “không có chương trình làm việc và sự chấp thuận của Chính phủ Việt Nam mà đòi gặp các cơ quan chức năng yêu cầu tham dự phiên tòa xét xử ABS là hành vi không tôn trọng nước khác. Đó là lý do ông M.Patzelt không được tham dự phiên tòa, không phải như một số thông tin bịa đặt rằng “không cho ông M. Patzelt tham gia để che giấu sự công minh của phiên tòa”…”!...
Đến Việt Nam để “bảo vệ” bị cáo của một phiên tòa, ông M. Patzelt không biết hay cố tình phớt lờ một vụ án hình sự tương tự được tiến hành trong thời gian dài và vẫn tiếp diễn ngay tại quê hương ông, nơi khẩu hiệu thượng tôn pháp luật luôn luôn được đề cao. Đó là vụ án xử các quản trị viên của cổng thông tin in-tơ-nét “Altermedia”. Cơ sở pháp lý tòa án CHLB Đức vận dụng trong vụ án này hầu như trùng khớp với nội dung Điều 258 Bộ luật Hình sự của Việt Nam. Ngày 27-1-2016, trang mạng Viện kiểm sát tối cao CHLB Đức (generalbundesanwalt.de) đăng thông cáo báo chí về việc thi hành lệnh bắt giam để điều tra đối với một nữ công dân Đức 47 tuổi, một nam công dân Đức 27 tuổi. Là quản trị viên định hướng nội dung cổng thông tin in-tơ-nét “Altermedia”, họ đã cho tải lên mạng các bài viết của người khác với nội dung kích động người dân. Để che chắn và chống lại sự can thiệp của Chính phủ CHLB Đức, máy chủ cổng thông tin này đã được đặt ở nước ngoài. Thông báo của Viện kiểm sát tối cao CHLB Đức cho biết: “Các công tố viên Liên bang tiến hành điều tra vì tầm quan trọng đặc biệt của vụ án. Các nội dung hình sự của cổng thông tin in-tơ-nét này đang lây lan trên thế giới và tự do truy cập. Họ khuyến khích các phần tử cực đoan cánh hữu khác để tiếp tục hành vi phạm tội, do đó tạo ra một không khí sợ hãi trong các nhóm bị ảnh hưởng… Những người bị bắt hôm nay và ngày mai phải ra trước thẩm phán điều tra của Tòa án Liên bang, từ đó sẽ có lệnh và quyết định về việc giam giữ trước khi xét xử”. Cũng ngày 27-1-2016, đài truyền hình ARD đưa bản tin: Bộ trưởng Bộ Nội vụ Liên bang ông D. Maiziere (D. Me-de) ra quyết định cấm “Altermedia” vì phát tán các bài viết có nội dung phân biệt chủng tộc, ca ngợi chủ nghĩa phát xít, kích động người dân, khuyến khích người khác có hành vi phạm tội… Người ủng hộ “Altermedia” cho rằng hoạt động của trang mạng chỉ thực thi quyền tự do dân chủ, cụ thể là tự do ngôn luận và báo chí đã được Hiến pháp công nhận. Nhưng cơ quan quyền lực cho rằng, hoạt động của “Altermedia” không tương thích với những nguyên tắc cơ bản của chế độ xã hội ở CHLB Đức đã được ghi rõ trong Bộ luật cơ bản (tức Hiến pháp).
Thực ra trước đó đã có một vụ án được tổ chức để xét xử những người điều hành “Altermedia”. Theo bài báo Bản cáo trạng muộn màng chống lại Altermedia (Späte Anklage gegen Altermedia) đã đăng trên tờ Frankfurter toàn cảnh (Frankfurter Rundschau) ngày 25-1-2011, thì từ đầu năm 2003 “Altermedia” bắt đầu hoạt động, mỗi năm có khoảng năm triệu lượt người truy cập. Kết quả điều tra cho thấy “Altermedia” là một bộ phận của mạng lưới quốc tế hoạt động chủ yếu ở phương Tây. Tháng 10-2011, thủ phạm chính là A. Möller (A.Muê-lơ) cùng đồng phạm R.Rupprecht (Rúp-rếch) bị Tòa án cấp tiểu bang xử phạt 30 và 27 tháng tù vì tội điều hành cổng thông tin này. Tháng 3-2013, hình phạt tù cho A. Möller kéo dài thêm một năm vì các hành động kích động khác, phải thi hành án tù đến ngày cuối cùng như đã ghi trong bản án và được trả tự do ngày 28-5-2015. Tờ Báo hàng ngày (Taz) ở Béc-lin, ngày 26-10-2011 đăng bài Người điều hành Altermedia bị tuyên án - Một tái thất bại chua xót đối với trang mạng phát xít (Betreiber von Altermedia verurteilt - Herber Rückschlag für Nazi-Website) tường thuật lại phiên tòa xét xử. Với 246 trang, bản cáo trạng phân chia các bài viết đã đăng tải theo 50 tội danh khác nhau. Thí dụ, ngoài việc kích động chống lại nhà nước, xúc phạm cá nhân, còn xuyên tạc lịch sử, thí dụ họ đã cho rằng “cuốn nhật ký của Anne Frank” - một kỷ vật lịch sử nổi tiếng của nữ nạn nhân trẻ tuổi gốc Do thái bị sát hại đầu năm 1945 trong trại tập trung phát-xít Đức, chỉ là sự giả tạo của người Do thái… Vậy ông M. Patzelt sẽ suy nghĩ như thế nào nếu có người nước ngoài đến tòa án CHLB Đức yêu cầu thả tự do các quản trị viên của “Altermedia” với lý do họ chỉ đưa lên mạng các bài viết của người khác? Và ông M. Patzelt sẽ trả lời như thế nào trước các câu hỏi: Tại sao họ phải ngồi tù nhiều năm, mặc dù họ không dùng vũ lực, hoặc không gây thương tích cho người khác? Tại sao ở CHLB Đức, họ lại không được hưởng quyền tự do ngôn luận và báo chí một cách vô giới hạn ?
Qua in-tơ-nét, tôi đã xem một số bức ảnh, vi-đê-ô-clíp về các cuộc tụ tập đông người ở Việt Nam để yêu cầu điều nọ, điều kia. Chỉ nhìn mấy gương mặt cũ rích, xuất hiện trên hết ảnh này vi-ê-ô-clíp khác, đọc các cuộc cãi vã, tố giác nhau ăn chặn tài trợ từ nước ngoài, rồi ông trí thức cạnh khóe bà ít học, bà ít học “chửi” lại ông trí thức,… là người lương thiện đã không thể đặt niềm tin vào họ. Ông M. Patzelt có biết “các nhà hoạt động nhân quyền” mà ông gặp sáng ngày 23-3 ở Hà Nội chỉ là nhóm người hễ có cơ hội là lại ra đường hô hào dân chủ, nhân quyền, nhưng không mảy may quan tâm tới hàng triệu đồng bào đang vất vả chống chọi hạn hán ở Tây Nguyên, không hề góp sức cùng Chính phủ và nhân dân khắc phục tình trạng xâm nhập mặn ở các tỉnh phía nam. Ông M.Patzelt nên nhớ Việt Nam là quốc gia độc lập, có chủ quyền, là một đối tác chiến lược của CHLB Đức, việc làm vừa qua của ông đã vi phạm thô bạo công việc nội bộ của Việt Nam và không mang lại ích lợi gì cho quan hệ giữa hai nước.
https://nhandan.com.vn/binh-luan-phe-phan/ong-m-pat-xe-den-viet-nam-de-lam-gi-259080/
——————————
Người nói dối nhất định sẽ thất bại !
Sau thất bại thảm hại của "chiến dịch thỉnh nguyện thư" kêu gọi "ưu tiên vấn đề nhân quyền Việt Nam", đòi "ban hành đạo luật hạn chế người Mỹ gốc Việt du lịch, gửi tiền về Việt Nam",... gần đây một số người lại làm rùm beng về cái gọi "Quốc hội Ðức điều trần về nhân quyền ở Việt Nam"! Vậy đâu là sự thật về cuộc "điều trần"(?), bài viết của tác giả Hồ Ngọc Thắng từ CHLB Ðức sẽ đưa ra câu trả lời giúp bạn đọc nhận diện, nắm bắt cụ thể.
Mấy ngày gần đây, qua in-tơ-nét tôi thấy RFI, RFA và một số blogger đưa tin "Quốc hội Ðức điều trần về nhân quyền ở Việt Nam và blogger anh Ba Sàm". Về sự kiện này, ngày 5-11-2014, trả lời phỏng vấn RFI, Vũ Quốc Dụng - người được coi phụ trách cái gọi là "mạng lưới người bảo vệ nhân quyền" đã đưa ra những lời lẽ rất tự tin. Theo thói quen của một người làm trong ngành luật, tôi rà soát các báo ở khu vực tiếng Ðức xuất bản cùng thời gian thì không thấy báo nào đề cập, tôi tra cứu trang mạng của Quốc hội Ðức (Deutscher Bundestag). Trên trang này, người quan tâm có thể đọc tin về mọi phiên điều trần do các Ủy ban thuộc Quốc hội Ðức thực hiện, hoặc theo dõi lịch làm việc để biết cuộc điều trần nào sẽ được tiến hành trong các tuần tiếp theo. Ở đó, tôi cũng không tìm thấy thông tin nào có nội dung như ông Vũ Quốc Dụng công bố. Tra cứu trên trang cá nhân của các đại biểu Quốc hội Ðức có liên quan, ngoài trang mạng của bà S.Bết-zing Lích-then-thê-lơ (Sabine Bétzing-Lichtenthéler) có đề cập, còn lại đều không đưa tin. Bà S.Bết-zing Lích-then-thê-lơ là cựu ủy viên Ủy ban nhân quyền Quốc hội Ðức, mới thôi làm đại biểu Quốc hội để đảm nhận nhiệm vụ khác ở một tiểu bang, ngày 28-10-2014, trang cá nhân của bà đăng một thông cáo báo chí (Pressemitteilung - trong tiếng Ðức, Mitteilung nghĩa là tin hay thông cáo, Presse là báo chí). Bà kể, ông Vũ Quốc Dụng đã liên hệ để bà tiếp xúc với Lê Thị Minh Hà (vợ ông Nguyễn Hữu Vinh - người bị bắt vì phạm tội theo Ðiều 258 - Bộ luật Hình sự Việt Nam). Và bà cho biết, tháng 11 sẽ có một "cuộc hẹn" (Termin) với vài đại biểu Quốc hội để bàn bạc về trường hợp này. Tuy nhiên, không tờ báo nào ở khu vực tiếng Ðức đăng thông cáo báo chí của bà S.Bết-zing Lích-then-thê-lơ. Ðiều đó là rất dễ hiểu, vì ở CHLB Ðức, mọi người dân, kể cả người nước ngoài, đều có thể liên hệ gặp các đại biểu Quốc hội để trình bày nguyện vọng, mong muốn của mình. Cho nên mỗi năm, một đại biểu Quốc hội Ðức tiếp rất nhiều người, mỗi người đến gặp đều có vấn đề riêng.
Trong các hoạt động quan trọng tại Quốc hội Ðức, có hai hoạt động rất được chú ý trước khi biểu quyết là điều trần ở ủy ban, tranh luận ở Quốc hội. Ðặc biệt là một vấn đề nào đó có được đưa ra điều trần hay không, phụ thuộc vào khá nhiều yếu tố. Theo tài liệu phổ biến ngày 4-11-2014 cùng các ngày trước và sau đó, tại Ủy ban nhân quyền và Quốc hội Ðức không có phiên điều trần nào về "nhân quyền ở Việt Nam" nói chung, về "blogger anh Ba Sàm" nói riêng. Chẳng nhẽ một phiên điều trần tổ chức tại Quốc hội mà báo chí CHLB Ðức không biết, chỉ có RFI, RFA và ông Vũ Quốc Dụng thì mới biết hay sao? Việc công bố thông tin về một sự kiện không đúng sự thật, liệu có phải do nhầm lẫn từ ngữ, hay xuất phát từ chủ ý tạo dựng, thổi phồng? Những ai ở CHLB Ðức quan tâm đến Việt Nam đều biết mấy chục năm qua ông Vũ Quốc Dụng từng công bố nhiều bài viết phê phán Nhà nước Việt Nam bằng tiếng Ðức và tiếng Việt. Là người sử dụng thành thạo tiếng Ðức như ông, khó có thể phạm sai sót ngôn ngữ khi viết bài công bố trên báo chí, hay trả lời phỏng vấn (trừ khi cố tình nhầm lẫn nhằm đạt mục đích riêng). Ngay cả việc đăng bức ảnh chụp chung với một đại biểu Quốc hội Ðức cũng không thể nói lên điều gì, đơn giản vì bức ảnh không cung cấp thông tin liên quan, không cho biết một phiên điều trần đã tổ chức và diễn biến cụ thể ra sao. Như vậy, họ làm rùm beng một sự kiện không có trong thực tế để làm gì?
Giữa tháng 10-2014, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và phái đoàn Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam tới thăm các nước Bỉ, Ðức, I-ta-li-a và Tòa thánh Va-ti-can. Như báo, đài của nhiều nước đã đưa tin, khi hội đàm, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng không hề né tránh các vấn đề được cho là "nhạy cảm", như nhân quyền và dân chủ. Phát biểu tại Viện Cô-be (Korbe) ở CHLB Ðức, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh: "Quyền con người, tự do và dân chủ là nhu cầu tự nhiên của nhân loại. Việt Nam cũng không ngoại lệ. Chính phủ Việt Nam đang nỗ lực xây dựng Nhà nước pháp quyền cũng như thể chế kinh tế thị trường hướng đến bảo đảm quyền tự do cho mọi công dân trên tất cả các lĩnh vực. Tất cả các mục tiêu này đều quy định rõ trong Hiến pháp". Ngày 15-10-2014, Quốc hội Ðức công bố thông báo báo chí có nhan đề Chủ tịch Quốc hội Lammert: Việt Nam cũng tiếp tục phát triển dân chủ. Thông báo cho biết, Chủ tịch Quốc hội Ðức bộc lộ mong đợi của mình là Việt Nam tiếp tục phát triển không chỉ về kinh tế, mà còn cả trong cơ cấu dân chủ và nhà nước pháp quyền. Tại cuộc gặp Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, ông Lam-mớt (Lammert) nhấn mạnh vai trò nổi bật của Việt Nam trong tư cách là một đối tác chính trị, kinh tế của CHLB Ðức ở châu Á; đầu năm 2015, Chủ tịch Quốc hội CHLB Ðức sẽ tới Việt Nam tham dự Hội nghị thường niên của Liên minh nghị sĩ. Nhân dịp này, ông cũng nhắc tới việc CHLB Ðức là thành viên đầu tiên của EU phê chuẩn hiệp định thương mại tự do giữa EU và Việt Nam.
Hôm 14-10-2014, đúng ngày Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến CHLB Ðức, tờ Thời gian (Zeit) đăng bài Việt Nam không phải lo bị nhắc nhở, với ý tưởng chính là Chính phủ CHLB Ðức sẽ không đưa vấn đề nhân quyền và dân chủ ra bàn bạc. Theo tác giả, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là người khi còn trẻ đã cầm súng tham gia kháng chiến, trưởng thành trong Ðảng Cộng sản, hiện nay là người được nhiều chính trị gia, nhà quản lý ở phương Tây muốn gặp gỡ. Ông và Thủ tướng Ðức - bà Méc-ken (Merkel), khi gặp nhau chắc chắn sẽ trò chuyện về việc phát triển quan hệ giữa hai quốc gia; trước đó ba năm, hai người đã ký Tuyên bố chung Hà Nội và hai bên mong muốn phát triển quan hệ đối tác chiến lược trên các lĩnh vực chính trị, văn hóa và kinh tế. Cũng dịp này, nhiều người Ðức đã viết thư tới tòa soạn tờ Thời gian để trình bày quan điểm của mình. Một trong số các thư tòa soạn đăng tải có đoạn: "Tôi thấy khó chịu khi chúng ta phải thường xuyên vươn mình trước mặt người khác để chỉ ra rằng mình là thợ cả của họ. Tôi cảm thấy khủng khiếp khi chúng ta muốn thể hiện mình là một thần thánh như thế nào. Một thần thánh định đoạt toàn thế giới và muốn nói với người khác là họ phải sống theo lý tưởng của chúng ta. Tôi không biết hết các trường hợp cụ thể, nhưng có thể ở một trường hợp nào đó, có điểm này điểm nọ có thật, nhưng nhiều sự việc được cố tình thổi phồng lên để cho chúng ta cảm nhận thấy mình trở lại là ông hoàng của thế giới này".
Suy nghĩ của bạn đọc tờ Thời gian là chính xác không chỉ từ tình cảm mà còn về pháp lý, vì phù hợp với luật lệ quốc tế. Theo luật quốc tế, một nhà nước độc lập có chủ quyền được phép đưa ra các quy định để duy trì chế độ xã hội của mình. Việc đưa ra các quy định đó gọi là "công việc nội bộ của quốc gia". Hiến chương LHQ, Tuyên bố của LHQ về các nguyên tắc của luật pháp quốc tế công bố năm 1970, Tuyên bố của LHQ về nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác công bố năm 1982 đều khẳng định "nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác". Không chỉ ở Việt Nam, mà các nước, trong đó có CHLB Ðức, đều đưa ra những quy định pháp lý, có biện pháp tương tự để duy trì chế độ pháp lý, chính trị của mình, để bảo vệ quyền lợi chính đáng của công dân sống trong cùng điều kiện chính trị, xã hội. Vì vậy, phê phán và đòi hỏi hủy bỏ một số điều trong Bộ luật Hình sự Việt Nam là việc làm phi lý, thiếu khách quan, không thể chấp nhận.
Những gì Vũ Quốc Dụng và cộng sự trong cái nhóm tự xưng là "mạng lưới người bảo vệ nhân quyền" ở CHLB Ðức, tự đặt tên là VETO (!), đã và sẽ không gây được ảnh hưởng trong việc vận động các quốc gia và tổ chức chống lại Việt Nam. Và chắc chắn sẽ thất bại như việc các hội nhóm chống cộng là người Mỹ gốc Việt liên tục gửi "thỉnh nguyện thư" tới Nhà trắng yêu cầu này nọ, mà kết quả may lắm là được tiếp xúc xã giao với mấy nhân viên Nhà trắng, rồi tất cả nhanh chóng hạ màn, chỉ vài ngày sau là đã rơi vào quên lãng. Trên thực tế, với những gì diễn ra trong thời gian qua cũng đủ cơ sở bảo đảm cho nhận định về sự thất bại của việc làm mà một số người như Vũ Quốc Dụng đã tiến hành. Ðó là sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với những thành tựu to lớn mà Ðảng Cộng sản, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã đạt được trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, từng bước nâng cao đời sống toàn dân; đó là các vị lãnh đạo Ðảng, Nhà nước Việt Nam được chào đón nồng nhiệt tại nhiều quốc gia, lãnh đạo nhiều quốc gia trên thế giới đến thăm Việt Nam; đó là rất nhiều văn bản hợp tác kinh tế, văn hóa,... giữa Việt Nam với nhiều quốc gia trên thế giới đã được ký kết...
VỀ nhân quyền, thời gian qua, dù một số người ráo riết thực hiện các chiến dịch vận động, tổ chức họp báo, hội luận, hội thảo, thậm chí là tài trợ cho một vài người từ Việt Nam sang châu Âu để tuyên truyền nhằm "tăng thêm sức nặng", cố gắng làm lạc hướng những ai chưa nắm bắt đầy đủ, hoặc chưa hiểu rõ các thành tựu nhân quyền ở Việt Nam, để từ đó không bỏ phiếu cho Việt Nam thì họ vẫn thất bại, vì không thể ngăn cản việc Việt Nam trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2014 - 2016. Họ thất bại vì dư luận quốc tế và chính phủ các nước trên thế giới đã nhận ra sự dối trá trong các hoạt động chống đối, bất chấp sự thật của họ. Họ thất bại vì sự thật, chân lý không bao giờ thuộc về họ. Ngạn ngữ Ðức có câu "LŨgen haben kurze Beine", tạm dịch: người nói dối là người có chân ngắn, bởi người chân ngắn thì không thể đi xa, cũng tức là người nói dối nhất định sẽ thất bại!
https://nhandan.com.vn/binh-luan-phe-phan/nguoi-noi-doi-nhat-dinh-se-that-bai-217851/
—————————
Là công dân thì phải tuân thủ luật pháp
Mấy tuần qua, trên internet, một số tổ chức, cá nhân có ý kiến phản đối việc Cơ quan an ninh điều tra tạm giữ hình sự hai ông Hồng Lê Thọ, Nguyễn Quang Lập. Từ CHLB Ðức, tác giả Hồ Ngọc Thắng đã gửi tới Báo Nhân Dân bài viết để bàn về ý kiến của những người phản đối, xin giới thiệu với bạn đọc.
Swj kiện Cơ quan an ninh điều tra tạm giữ hình sự hai ông Hồng Lê Thọ, Nguyễn Quang Lập để tiếp tục điều tra làm rõ hành vi vi phạm pháp luật liên quan Ðiều 88 (Tội tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam), Ðiều 258 (Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân) của Bộ luật Hình sự nước CHXHCN Việt Nam, đang được một số người bàn luận trên internet, và RFA, RFI, BBC, VOA cũng kiếm được cơ hội phê phán Việt Nam. Ðể ủng hộ hai ông, có người đăng bài viết riêng trên mạng, có người ký tên vào danh sách yêu cầu "trả tự do". Rất tiếc, cơ sở để họ yêu cầu không phải là bằng chứng có tính pháp lý, mà chủ yếu suy luận dựa theo cảm tính, như cho rằng người bị bắt là "người tốt, là người yêu nước", vậy tại sao lại bắt người yêu nước?
Ở quốc gia nào cũng vậy, lý do để tạm giữ hoặc bắt giam (biện pháp hạn chế quyền tự do) là từ việc cơ quan điều tra thu thập được chứng cứ bước đầu. Khi kết thúc thủ tục điều tra, cơ quan điều tra sẽ chuyển kết quả điều tra cho viện kiểm sát. Viện kiểm sát sẽ quyết định có đưa ra cáo trạng chuyển tới tòa án có thẩm quyền. Tòa án sẽ là nơi quyết định, liệu thủ tục xét xử có mở ra hay không, sau khi cho mở thủ tục mới quyết định liệu cáo trạng có cơ sở hay không. Ðể đánh giá khách quan một vụ án, trước hết cần xem xét hai yếu tố: cơ sở pháp lý và sự việc bị tố cáo. Trừ một số nước theo đạo Hồi lấy kinh Cô-ran (Quran) làm chuẩn mực pháp lý, còn lại, các nước khác trên thế giới đều đưa ra quy định pháp lý của luật hình sự dựa trên nguyên tắc có từ thời La-mã: "không có tội phạm nếu không có luật pháp" (tiếng La-tin: "nullum crimen sine lege", tiếng Ðức: "kein Verbrechen ohne Gesetz"), và "không có hình phạt nếu không có pháp luật" (tiếng La-tin: "nulla poena sine lege", tiếng Ðức: "keine Strafe ohne Gesetz"). Dựa trên các nguyên tắc này, tùy theo điều kiện cụ thể, mỗi quốc gia đưa ra quy định của luật hình sự nói rõ hành động nào bị cấm và hậu quả của việc không chấp hành các điều răn đe. Các hành động bị coi là phạm tội và phải chịu hình phạt được quy tụ trong một bộ luật hoàn chỉnh được gọi là bộ luật hình sự. Quy định về tiến trình từ tạm giam (bắt giam), điều tra đến xét xử được gọi là quy định của thủ tục tố tụng, cụ thể hóa qua bộ luật tố tụng hình sự. Cơ sở pháp lý trực tiếp của hai bộ luật này là hiến pháp. Những nguyên tắc cơ bản của hiến pháp cần được bảo vệ được cụ thể hóa trong hai bộ luật này.
Ðiều 88, Ðiều 258 Bộ luật Hình sự nước CHXHCN Việt Nam (được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 21-12-1999 và sửa đổi ngày 19-06-2009) vẫn có hiệu lực vào thời điểm hai ông Hồng Lê Thọ, Nguyễn Quang Lập thực hiện hành vi được coi là phạm pháp. Như vậy, cơ sở pháp lý cho việc bắt giam đã và đang tồn tại. Vậy nhưng một số tổ chức và cá nhân đưa ra lý lẽ: các quy định này vi phạm nhân quyền. Lý lẽ đó là không thể chấp nhận vì phi lý, thiếu khách quan, thiếu công bằng. Như mọi quốc gia khác, CHXHCN Việt Nam là quốc gia độc lập, có chủ quyền, có nghĩa vụ, quyền chính đáng trong việc bảo vệ quyền lợi của công dân cả về vật chất và tinh thần cũng như duy trì hoạt động của các cơ quan trong hệ thống lập pháp, hành pháp, tư pháp của mình. Ở một số quốc gia vẫn tự hào là nhà nước, xã hội đều được điều hành bằng những quy định pháp lý dựa trên nguyên tắc của nhà nước pháp quyền, cũng có các quy định mang nội dung tương tự nội dung Ðiều 88, Ðiều 258 Bộ luật Hình sự nước CHXHCN Việt Nam.
Ở CHLB Ðức, theo Ðiều 5 Ðạo luật cơ bản (tức Hiến pháp) thì mọi người có quyền thể hiện quan điểm của mình qua hình ảnh, lời phát biểu, bài viết trên sách báo, phát qua phát thanh, truyền hình. Nhưng không có nghĩa mọi người có thể phát biểu, viết lách hoàn toàn tự do, không cần quan tâm tới sự thật và hậu quả việc mình làm. Một số quy định cụ thể được đưa ra nhằm xác định đâu là giới hạn của quyền tự do theo Hiến pháp. Ðiều 187 Bộ luật Hình sự CHLB Ðức quy định tội vu khống (tiếng Ðức: Verleumdung): ai đã quả quyết, hoặc phổ biến những lời sai sự thật, tỏ thái độ khinh thường, xúc phạm danh dự người khác là phạm tội vu khống, khung hình phạt từ phạt tiền đến 5 năm tù. Một tội khác được quy định rõ là tội phỉ báng (tiếng Ðức: Verunglimpfung), có hai loại phỉ báng gồm: phỉ báng cá nhân và phỉ báng một cơ quan. Phỉ báng được hiểu là làm mất uy tín (làm ô danh) qua một phát biểu, một hành động hay một thể hiện ở nơi đông người, hoặc phát tán rộng rãi bài viết. Ðiều 90 Bộ luật Hình sự CHLB Ðức quy định tội phỉ báng Tổng thống với khung hình từ ba tháng đến 5 năm tù (ở các nước có chế độ quân chủ, tội này gọi là tội khi quân). Khoản 1 Ðiều 90a quy định tội phỉ báng Nhà nước, khung hình phạt là từ phạt tiền đến ba năm tù. Nhưng theo khoản 3 của Ðiều này, khung hình phạt tối đa là 5 năm tù, nếu như người phạm tội cố tình chống lại sự tồn tại của nhà nước Ðức hay chống lại các nguyên tắc của Hiến pháp. Ðiều 90b Bộ luật Hình sự quy định tội phỉ báng có tính chất thù địch cơ quan lập pháp. Ðối với nạn nhân là người đã chết thì Bộ luật Hình sự quy định tội phỉ báng anh linh người đã khuất ở Ðiều 189, với khung hình phạt là từ phạt tiền cho đến hai năm tù.
Ở CH Áo cũng có quy định tương tự về tội vu khống, nhưng không chỉ với cá nhân mà cả với cơ quan tư pháp và quy định cụ thể ở Ðiều 297 Bộ luật Hình sự. Ở Thụy Sĩ có hành động bị cấm cũng được gọi là tội vu khống và quy định cụ thể trong Ðiều 174 Bộ luật Hình sự với khung hình phạt như ở Ðức. Ở Pháp cũng có các quy định tương tự và ở I-ta-li-a cũng vậy. Nhưng ở I-ta-li-a có điểm hơi khác, xuất phát từ quan điểm, nếu bị phỉ báng trực tiếp thì người bị hại dễ dàng bảo vệ mình hơn trong trường hợp vắng mặt, vì vậy Bộ luật Hình sự có quy định khác nhau ở Ðiều 594 và Ðiều 595. Những tình tiết tăng nặng là phỉ báng trước đông người hay sử dụng báo chí, tài liệu công cộng hoặc liên quan đến các cơ quan hành chính, tư pháp... Khung hình phạt từ phạt tiền đến ba năm tù. Ở Thổ Nhĩ Kỳ, các hành động thể hiện sự phỉ báng dân tộc, nhà nước, các cơ quan, tổ chức quốc gia đều bị trừng phạt theo quy định của Ðiều 301 Bộ luật Hình sự. Ở các quốc gia khác, như Mỹ, Vương quốc Anh, Ô-xtrây-li-a là những nước có hệ thống pháp luật được gọi là "pháp luật theo tập quán thông thường" thì việc truy cứu trách nhiệm của việc vi phạm và làm tổn hại danh dự không nghiêm khắc bằng các nước phương Tây khác, chủ yếu là bắt đền bù thiệt hại. Ðiều đó không có nghĩa là ở các nước này mọi người có thể tự do vu khống và phỉ báng.
Ở Việt Nam, khi xem xét yếu tố bị tố cáo, phải tuân thủ nguyên tắc được nêu trong khoản 1 Ðiều 31 Hiến pháp sửa đổi năm 2013: "Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật". Trong hai trường hợp đã nêu, viện kiểm sát chưa ra bản cáo trạng cho nên trong thời điểm hiện tại không thể đánh giá toàn diện về sự việc. Nhưng chắc hẳn các bài được hai ông phát tán rộng rãi là một phần của chứng cứ đưa ra xem xét để buộc tội hay giảm tội. Cho đến nay, trên internet đã có nhiều bài viết, đặc biệt là những người tham gia mạng xã hội facebook liên tục tải các bài viết liên quan. Phần lớn người tham gia ủng hộ biện pháp cơ quan điều tra đã thi hành. Họ ủng hộ vì bất bình, có người thấy bị xúc phạm qua bài viết được hai blog của hai ông này đăng tải, phổ biến. Số ủng hộ hai ông thì đưa ra lý lẽ: đây là các "bài phản biện xã hội", "chỉ ra mặt tiêu cực" của xã hội... Nhưng đó có lẽ vẫn chỉ là ý kiến riêng, ít nhiều ngụy biện, và không ngoại trừ những người muốn sử dụng vụ việc này làm cái cớ để phê phán Nhà nước Việt Nam. Ðiều đó rất mâu thuẫn, vì một mặt họ yêu cầu phải xây dựng nhà nước pháp quyền, cả về tổ chức, văn bản và thực hiện văn bản; mặt khác họ lại đưa ra yêu sách phải bãi bỏ các quy định pháp lý có tính chất phổ quát với nhiều quốc gia, thuộc về kỷ cương để tạo lập nên trật tự xã hội. Mọi người đều biết, Nhà nước Việt Nam đã và đang hoan nghênh những người có ý thức tố giác các hành vi vi phạm pháp luật. Nhờ sự tố giác mà một số người, trong đó có cả cán bộ cao cấp, đã bị hầu tòa, bị tuyên án với bản án tù lâu năm. Vì thế, Tòa án nhân dân mới chính là nơi có thẩm quyền xét xử và phán quyết.
Từ xa, nhìn về đất nước, tôi nghĩ bất kể ai, dù là nhà văn, blogger nổi tiếng, là người yêu nước, Việt kiều hồi hương,... thì trước hết vẫn là công dân của xã hội. Mà đã là công dân của xã hội thì phải tuân thủ luật pháp. Nếu có hành vi vi phạm pháp luật thì dù là ai cũng không thể ở ngoài khuôn khổ pháp luật. Ðọc bài của tôi, có thể có người bảo ở nước ngoài nói thì dễ. Ðúng là nói vọng về nước thì rất dễ, nhưng ngay từ những ngày chiến đấu trên chiến trường Quảng Trị, tôi đã tự ý thức rằng dù khó khăn đến đâu vẫn có thể vượt qua, nếu thật sự yêu Tổ quốc thì một ý kiến trung thực, chân thành vẫn có ý nghĩa. Những lần về nước cùng bạn bè người Ðức, tôi tự hào giới thiệu với họ bao điều tốt đẹp của Tổ quốc. Thấy Tổ quốc đổi thay từng ngày, tôi lại ao ước giá như pháp luật thực sự được thượng tôn và mọi người đều tuân thủ pháp luật thì còn tự hào biết bao nhiêu!
https://nhandan.com.vn/binh-luan-phe-phan/la-cong-dan-thi-phai-tuan-thu-luat-phap-221989/
————————
Không thể kết luận "tự do tôn giáo ở Việt Nam có vấn đề"!
Ðể hiểu biết thực chất đầy đủ về một sự kiện - vấn đề nào đó ở trong nước, cần tìm hiểu một cách khách quan, toàn diện và cụ thể, đó là thái độ nghiêm túc của mọi người Việt Nam ở nước ngoài khi hướng về Tổ quốc. Ðó cũng là nguyên tắc mà tác giả Hồ Ngọc Thắng hiện sống và làm việc tại CHLB Ðức, đã thể hiện qua bài Không thể kết luận quyền "tự do tôn giáo ở Việt Nam có vấn đề". Ðược sự đồng ý của tác giả, Báo Nhân Dân trích đăng bài viết này để bạn đọc tham khảo.
Rất có thể tôi là người Việt ở hải ngoại, mỗi khi xách cặp đến công sở lại vắt óc với câu hỏi: "Tự do tôn giáo là gì? Ðó có phải là hành động vi phạm nhân quyền?". Người chưa biết tôi sẽ cho đó là một suy đoán phóng đại, nhưng suy đoán này có cơ sở, vì đây là lĩnh vực công tác của tôi từ hơn hai thập niên qua tại một Cơ quan Liên bang thuộc Bộ Nội vụ CHLB Ðức. Là một quan chức chính phủ và là người gốc châu Á duy nhất trong cương vị này tại CHLB Ðức, tôi được giao nhiệm vụ quan trọng như các đồng nghiệp Ðức khác là phỏng vấn, điều tra, xem xét và quyết định cho phép người nước ngoài lưu vong vì lý do chính trị hay tôn giáo tại CHLB Ðức. Một phần công việc của tôi là đại diện cho cơ quan trong các thủ tục tranh cãi trước tòa án hành chính khi người nước ngoài nào đó không đồng ý với quyết định của Cơ quan Liên bang. Vì vậy hằng ngày tôi đọc và nghiên cứu một lượng lớn các bản tin thời sự của các hãng thông tấn, các phóng sự của các tạp chí, các điện tín của các Ðại sứ quán Ðức ở nhiều quốc gia gửi về cho Bộ Ngoại giao, các giám định của các viện nghiên cứu, lời kể trực tiếp của những người xin lưu vong chính trị, v.v. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi trình bày quan điểm của cá nhân tôi với cương vị là một kiều bào ở hải ngoại.
CHLB Ðức là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng trực tiếp lớn nhất của các cuộc khủng hoảng chính trị, nhân đạo, xung đột vì lý do tôn giáo hoặc lãnh thổ trên toàn cầu. Mỗi năm một khoản tiền hàng tỷ euro và hàng vạn quan chức từ trung ương đến địa phương đã và đang được huy động để giải quyết hậu quả trước mắt cũng như lâu dài của các xung đột đó. Và CHLB Ðức cũng thu được nhiều thành tích trong thực thi đường lối đối ngoại và đối nội. Trong khi một số nước cố tình thể hiện mình là bạn và rất trung thành với Hoa Kỳ, thì CHLB Ðức kiên quyết thực hiện đường lối ôn hòa trên tinh thần độc lập, tự chủ. Nếu theo dõi thái độ bỏ phiếu của CHLB Ðức tại LHQ, vai trò của CHLB Ðức trong cuộc chiến tại Syria, Libya, Iraq, Serbia sẽ nhận thấy điều này. Tại một vài nước láng giềng của Ðức, trong mấy năm qua đã xảy ra các bạo loạn chống cảnh sát, đốt phá xe cộ do một số người nhập cư gây ra. Nhưng điều đó không xảy ra tại CHLB Ðức. Một trong các nguyên nhân đưa tới thành tích đó là sự theo dõi rất sát sao tình hình tại các điểm nóng, phân tích chính xác các nguồn tin để đưa ra biện pháp ứng xử kịp thời.
Tôi có thời gian và cơ hội để biết rõ, ban lãnh đạo của Cơ quan Liên bang nơi tôi làm việc liên tục hơn hai thập niên qua đã không ân hận vì tuyển chọn tôi, một người tốt nghiệp đại học luật tại một trường đại học tổng hợp lâu đời và nổi tiếng của nước Ðức, sử dụng thành thạo tiếng Ðức và tiếng Việt. Vì vậy tôi dám quả quyết, bài viết của tôi không phải là một bài viết "ếch ngồi dưới giếng". Ðể trả lời câu hỏi trên, tôi xin kể một câu chuyện xảy ra cách đây không lâu: Tất cả các phiên dịch viên làm việc trong cơ quan chúng tôi đều làm việc trên cơ sở hợp đồng, họ được gọi khi có nhu cầu, thù lao trả theo giờ. Nếu một phiên dịch lần đầu làm việc với tôi, tôi sẽ hỏi qua lý lịch người đó và tôi đều kể là đã sinh ra tại Việt Nam, nhận bằng tú tài ở miền bắc Việt Nam. Một hôm, anh phiên dịch là công dân một nước châu Á có đạo Hồi là quốc đạo, đến gặp tôi. Anh hỏi tôi theo đạo nào. Tôi trả lời, ba mẹ tôi không theo một đạo nào, và tôi cũng thế. Anh liền hỏi lại: Thế thì về mặt tâm linh ông sống thế nào. Tôi nói: Ông cha tôi từ bao đời nay thờ cúng ông bà tổ tiên. Anh hỏi tiếp: Thế gia đình ông tin ai? Tôi giải thích thế này: Nước Việt Nam DCCH khai sinh qua bản Tuyên ngôn Ðộc lập của Hồ Chí Minh ngày 2-9-1945. Từ ngày đó, cả họ hàng tôi chỉ tin vào Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ðảng Cộng sản Việt Nam. Anh ta liền nói: Hóa ra ông là một người vô thần. Với nhiều người theo đạo Hồi thì cụm từ "người vô thần" là lời nguyền rủa. Ở một số nước theo đạo Hồi, tình trạng "vô thần" của một cá nhân là một trọng tội, có thể bị trừng phạt tới mức tử hình. Tôi giải thích cho anh ta nghe: Ðại gia đình tôi sống hàng trăm năm nay trong tình trạng vô thần. Chúng tôi không theo một tôn giáo nào, không phải vì chúng tôi bị cấm đoán hay bị cản trở tham gia tôn giáo. Ðó là truyền thống gia đình, cũng là lựa chọn hoàn toàn tự do và tự giác của chúng tôi.
Bảo vệ tự do tôn giáo, trước tiên là phải bảo vệ sự tự do tham gia hay không tham gia một tôn giáo nào. Sự tự do lựa chọn đó phải bảo vệ bằng văn bản pháp luật và sự thực thi quy định đó trong cuộc sống hằng ngày. Theo kết quả Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009 thì 81,69% số dân Việt Nam không theo một tôn giáo nào. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong các nhân quyền quan trọng nhất trong một quốc gia, một cộng đồng dân tộc. Nếu xét về phương diện này thì không thể kết luận quyền "tự do tôn giáo ở Việt Nam có vấn đề". Có thể vì các động cơ khác nhau hay cách nhìn nhận khác nhau mà có nước, tổ chức và cá nhân trong thời gian gần đây đánh giá như vậy. Trong phần lớn các lập luận để phê bình Nhà nước Việt Nam về tự do tôn giáo, họ đã mập mờ trong việc phân biệt giữa tự do tham gia tôn giáo và tự do cho những người tham gia một tôn giáo. Khi xem xét sự tự do cho những người tham gia một tôn giáo ở Việt Nam, thì những người phê bình cũng rất mập mờ trong việc xem xét.
Các cơ quan nhà nước, các tòa án hành chính Ðức, khi xem xét việc vi phạm tự do tôn giáo nói riêng và vi phạm nhân quyền nói chung, trước hết họ đưa ra câu hỏi: Có thật sự vi phạm không? Câu hỏi tiếp theo phải là: Vi phạm có hệ thống hay vi phạm riêng lẻ? Sau khi đã kết luận không có sự vi phạm một cách hệ thống, họ sẽ đi sâu nghiên cứu vi phạm riêng lẻ. Câu hỏi đầu tiên là: Sự vi phạm là hành động tự quyết của một viên chức, hay là anh ta thi hành mệnh lệnh của một cơ quan, một tổ chức? Trong thời gian vừa qua có người phê phán Việt Nam chủ yếu vì một số vụ án. Bị can, bị cáo trong các vụ án đó lại là thành viên một tổ chức tôn giáo. Theo quan điểm của công an, viện kiểm sát, tòa án thì những người bị truy tố vì vi phạm một điều trong Bộ luật Hình sự, chứ không phải vì họ là thành viên một tổ chức tôn giáo. Song các bị cáo lại đưa ra lời bào chữa là thủ tục xét xử chỉ vì mục đích trừng trị chính trị. Rất tiếc là các quốc gia, tổ chức, cá nhân khi phê bình Việt Nam chủ yếu là dựa vào các lập luận này của bị cáo.
Bảo vệ tự do tôn giáo, trước tiên là phải bảo vệ sự tự do tham gia hay không tham gia một tôn giáo nào. Sự tự do lựa chọn đó phải bảo vệ bằng văn bản pháp luật và sự thực thi quy định đó trong cuộc sống hằng ngày. Chúng ta ai cũng biết, trên thế giới có nhiều tôn giáo khác nhau. Một trong các tôn giáo lâu đời và có số lượng người tham gia lớn nhất là Thiên chúa giáo. Ở Arập Saudi, việc thực hiện các hành động của Thiên chúa giáo nơi công cộng đều bị cấm đoán. Ở Cộng hòa Hồi giáo Iran, Thiên chúa giáo không bị cấm, nhưng việc truyền đạo lại bị nghiêm cấm và bị trừng phạt.
Ở nhiều nước mà đạo Hồi là quốc đạo, thì khi kết hôn, người không theo đạo Hồi bắt buộc phải theo đạo Hồi. Tại Cộng hòa Iraq, Thiên chúa giáo, đạo Tin lành không bị nhà nước nghiêm cấm hay cản trở. Nhưng tình hình đất nước hỗn loạn, chính quyền không bảo vệ được nhà thờ và con chiên của hai dòng đạo này. Họ bị một số dòng đạo khác chế áp nghiêm trọng. Từ thực tế đó, cơ quan chuyên trách của CHLB Ðức, hiện nay công nhận và cho phép công dân Iraq được lưu vong vì lý do tôn giáo, nếu người đó chứng minh được rằng, mình có quốc tịch Iraq và theo Thiên chúa giáo hay Tin lành.
Còn tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam hiện nay như thế nào? Sau đây tôi trình bày những điều "mắt thấy tai nghe" của tôi: Trước đây, tôi về Việt Nam cứ hai hoặc ba năm một lần, nhưng từ 10 năm trở lại đây, năm nào cũng có mặt ở quê hương. Một thuận lợi lớn là tôi có bà con ở cả ba miền của đất nước. Nhờ có bà con họ hàng nên tôi dễ dàng tiếp xúc với cuộc sống của người dân địa phương. Tôi đã đi từ bắc vào nam, từ nam ra bắc, từ đồng bằng đến vùng sâu, vùng xa hẻo lánh... Các cơ quan nhà nước Ðức không giao cho tôi nhiệm vụ điều tra hay xem xét tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam, tình hình nhân quyền của Việt Nam. Là một quan chức chính phủ được giao nhiệm vụ xét và quyết định về đơn xin tị nạn của người nước ngoài vì lý do chính trị hay tôn giáo, nên tôi quan tâm đến các vấn đề liên quan đến nghề nghiệp của mình. Khi tới thăm một thành phố hay một vùng nông thôn, tôi cố gắng đến các nhà thờ hay địa điểm sinh hoạt tôn giáo của người bản địa. Có lần tôi cùng vợ, con chứng kiến cảnh hoạt động tôn giáo của giáo dân ở hai xứ đạo Bùi Chu (Nam Ðịnh) và Phát Diệm (Ninh Bình). Một hình ảnh luôn đập vào mắt tôi là rất nhiều nhà thờ được tu bổ khang trang. Nhiều nhà thờ được xây mới. Tôi đã đến thăm Chùa Bái Ðính ở Ninh Bình trong hai năm 2010 và 2013. Ðến thăm chùa, liệu ai dám nói là tự do tôn giáo ở Việt Nam có vấn đề? Tôi thường tìm cách để bắt chuyện với giáo dân Thiên chúa giáo và Phật tử. Qua phong cách và quần áo, mọi người dễ nhận ra tôi là Việt kiều. Ðến hôm nay, tôi không phát hiện một dấu hiệu khả nghi nào về sự vi phạm tự do tôn giáo ở Việt Nam.
Ðánh giá thống nhất của các cơ quan nhà nước và tòa án của CHLB Ðức về tự do tôn giáo ở Việt Nam là: Không công dân nào bị Nhà nước hay xã hội gây khó dễ hay đàn áp vì tham gia tôn giáo, hay hoạt động tôn giáo. Ðánh giá này trước hết dựa vào văn bản pháp luật của Việt Nam. Trước tiên, Ðiều 70 của Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 bảo đảm quyền tự do tham gia và hoạt động tôn giáo của công dân. Ðể cụ thể hóa quyền Hiến pháp, Pháp lệnh 2004 về tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định thi hành 2005 được ban hành. Trong đời sống hằng ngày, quyền tự do này cũng được bảo đảm. Chỉ có ai vừa hoạt động tôn giáo vừa hoạt động chống đối mới gặp khó khăn với pháp luật. Ðể phục vụ cho hoạt động chuyên môn của các cơ quan và tòa án, Bộ Ngoại giao Ðức đều đặn đưa ra báo cáo về tình hình ở Việt Nam, lần gần đây nhất là năm 2013. Báo cáo này là tài liệu chỉ dùng trong cơ quan chuyên trách nên được xếp vào loại "giữ kín".
Các quan chức được giao nhiệm vụ xét đơn tị nạn của người Việt Nam được cung cấp một loại hồ sơ mà người Việt hay gọi "cẩm nang" phục vụ quyết định. "Cẩm nang" này luôn được bổ sung đúng với tình hình thực tế ở Việt Nam. Trong "cẩm nang", câu hỏi về tự do tôn giáo ở Việt Nam được trình bày khá chi tiết. Các quan chức phụ trách Việt Nam cũng được bồi dưỡng kiến thức về lịch sử, văn hóa, kinh tế và chính trị Việt Nam. Ðể có khả năng nhận biết liệu một người xin tị nạn nói dối hay nói thật, các quan chức thường xuyên được nâng cao chuyên môn về tâm lý học. Rất có thể là các quan chức được đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ chu đáo, có trong tay các tài liệu chính xác về tình hình Việt Nam, cho nên các năm gần đây hầu như không có công dân nào của Việt Nam được lưu vong vì lý do tôn giáo. Có người tị nạn khai phải chạy trốn khỏi Việt Nam vì lý do chính trị, hay tôn giáo nhưng quan chức Ðức lật lại các tờ báo mà bất kỳ người dân Việt Nam nào cũng mua được ra xem. Các bài báo kể tỉ mỉ việc người đó bị vỡ nợ, có người lại bị truy tố tội lừa đảo, nhận hối lộ hoặc môi giới hối lộ, nhưng lại khai là hoạt động chính trị. Hằng tháng, hằng quý, hằng năm, Bộ Nội vụ CHLB Ðức ra thông báo báo chí thống kê số người nộp đơn xin tị nạn và kết quả quyết định. Nhiều năm trước, Việt Nam luôn ở "top 10" trong danh sách các nước có người xin tị nạn tại Ðức. Nếu xem chi tiết thống kê đã công khai trong các năm gần đây, thì số lượng đơn xin tị nạn của người Việt rất ít, số người Việt Nam được ở lại Ðức chủ yếu không phải vì bị đàn áp về chính trị hay tôn giáo, mà vì lý do nhân đạo. Ðại đa số người được ở lại phần lớn vì bệnh tật hiểm nghèo hay hoàn cảnh gia đình éo le rất đặc biệt. Từ những con số này, có thể nói không ai dám quả quyết "tự do tôn giáo ở Việt Nam có vấn đề".
Nhân đây tôi cũng xin nhắc tới chi tiết thú vị: Một số chính trị gia ở phương Tây vẫn khen tấm tắc, một số nước ở Ðông Nam châu Á có "nền dân chủ theo đúng nghĩa của nó"! Sự thay đổi tích cực và liên tục của tình hình nhân quyền nói chung và tự do tôn giáo nói riêng ở Việt Nam trong những năm qua đã được cộng đồng quốc tế công nhận. Bằng chứng cụ thể là việc năm 2006, Chính phủ Hoa Kỳ đã đưa Việt Nam ra khỏi danh sách những nước cần đặc biệt quan tâm về tự do tôn giáo. Trong bảy năm vừa qua, có một số cá nhân và tổ chức muốn làm đảo lộn thực tế này, nhưng họ đã bất thành vì sự thật không thuộc về họ, và Chính phủ Hoa Kỳ cũng không chiều theo ý họ.
——————————
"Dân chủ ngoại lai" cản trở sự phát triển của dân tộc
Với một số người đang ra sức cổ xúy cho cái gọi là "nền dân chủ phương Tây", phải chăng họ không quan tâm đến việc áp đặt dân chủ là nguyên nhân gây ra bất ổn tại một số nước và ngay ở chính phương Tây, cái gọi là "nền dân chủ" cũng đang lâm vào khủng hoảng? Ðó là câu hỏi tác giả Hồ Ngọc Thắng đặt ra và đã phần nào trả lời từ kết quả khảo sát của mình.
Tin tức thời sự hằng ngày về tình hình chiến sự cũng như về tình trạng bất ổn ở nhiều nước hiện đang là một phần sự thật chứng minh "nền dân chủ nhập khẩu" không thể tồn tại khi không phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, đặc biệt là khi không phải là yêu cầu tự thân của một quốc gia. Còn về sự khủng hoảng của nền dân chủ ở phương Tây, tốt nhất nên tham khảo ý kiến của các nhà khoa học sống, làm việc ở phương Tây. Chẳng hạn như khi bàn về cuộc khủng hoảng của nền dân chủ, các nhà chính trị học phương Tây thường sử dụng khái niệm "sự chán chường chính trị" (tiếng Ðức: Politikverdrossenheit). Theo họ, "sự chán chường chính trị" rất gần gũi với "sự khủng hoảng dân chủ" (tiếng Ðức: Demokratiekrise).
Khái niệm "chán chường chính trị" được sử dụng từ những năm 80 của thế kỷ trước, nhưng cuộc khủng hoảng dân chủ ở phương Tây lại bắt đầu từ những năm 60. Một trong những tác giả đầu tiên nghiên cứu hiện tượng này là ông E.Phra-en-ken (Ernst Fraenkel). Sau khi nghiên cứu tiến trình bầu cử Quốc hội CHLB Ðức năm 1965, trong một bài phân tích công bố năm 1966, ông đưa ra khái niệm tạm dịch là "sự chán chường quốc hội" (tiếng Ðức: Parlamentsverdrossenheit). E.Phra-en-ken sinh ở Ðức và hành nghề luật sư, năm 1933 ông di cư tới Anh, sau đó sang Mỹ và trở thành công dân Mỹ. Cuối 1945, ông là một trong các cố vấn của Mỹ ở Hàn Quốc giúp nước này xây dựng hệ thống pháp luật. Những năm 50 và 60, ông trở thành nhà chính trị học và giảng dạy ở CHLB Ðức. Ông chủ yếu nghiên cứu bốn hệ thống chính trị là: nền Cộng hòa Vai-ma (Weimar), nhà nước Ðức quốc xã, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, CHLB Ðức. Năm 1999, toàn tập bài viết của ông được xuất bản gồm bảy quyển...
Năm 1992, tổ chức chăm lo giữ gìn và phát triển tiếng Ðức có tên viết tắt là GfdS, chọn khái niệm "sự chán chường chính trị" là từ ngữ của năm. Và việc năm 1994, khái niệm này chính thức được đưa vào từ điển tiếng Ðức lớn nhất ở khu vực sử dụng tiếng Ðức Ðu-đen (Duden), đã cho thấy sự hệ trọng của vấn đề. Như vậy, một câu hỏi được đặt ra là: sự khủng hoảng của nền dân chủ phương Tây thể hiện như thế nào và làm sao nhận biết được? Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà chính trị học và rất nhiều bài báo trên các nhật báo, tạp chí danh tiếng trong khu vực sử dụng tiếng Ðức đã tham gia trả lời. Thí dụ, ngày 27-12-2006, tạp chí danh tiếng Ngôi sao (Stern) đăng bài Một chính phủ không có nhân dân, trong đó nhận định vết rạn nứt giữa chính trị và người dân chưa bao giờ sâu thẳm như hiện nay; theo kết quả của cuộc thăm dò dư luận công khai của Viện thăm dò dư luận Pho-da (Forsa) thì 82% người dân Ðức tin rằng, họ chẳng có quyền hành gì về chính trị, nhiều người nghi ngờ bầu cử sẽ thay đổi một chút ít; và cũng theo kết quả thăm dò dư luận của Viện Pho-da, 82% người dân Ðức và tới 90% người dân Ðông Ðức tin rằng, các quyền lợi của người dân không được chú ý tới...
Bàn về sự khủng hoảng dân chủ, ngày 1-10-2010, Báo Phrăng-phuốc khái quát (Frankfurter Allgemeine Zeitung) đăng bài Sự mất lòng tin của nhà báo K.D.Phrăng-ken-béc (Klaus-Dieter Frankenberg), trong đó có đoạn: "Vết rạn nứt giữa người cai trị và người bị cai trị ngày càng lớn hơn, cụ thể là với toàn bộ các vấn đề chính trị. Thực tế này có thể dẫn đến đâu, đã chỉ rõ ở Hoa Kỳ. Ở đó, sự xung đột chính trị đã bị thoái hóa thành một mối thù lộ rõ toàn bộ và mang nặng tính ý thức hệ. Chính trị bị căm thù, những nỗi oán hận được tăng trưởng. Washington là từ đồng nghĩa cho những gì xấu xa... Rất nhiều cử tri đã tự cách biệt, không muốn bị làm phiền". Về hiện tượng này tại Cộng hòa Áo, năm 2013, bà Ta-ma-ra E-xơ (Tamara Ehs), nhà chính trị học làm việc ở Học viện khoa học và nghệ thuật Viên, giảng dạy tại Trường ÐH tổng hợp Dan-xbuốc (Salzburg) đăng trên Báo Thành Viên (Wiener Zeitung) bài Lối thoát cho khủng hoảng dân chủ. Bà viết: "Hệ thống chính trị của chúng ta đã mất tính chính trị. Ðiểm hứa trọng tâm của nền dân chủ đại diện đã bị phá vỡ. Chúng ta không còn những phe đối kháng. Ði bầu cử không còn ý nghĩa là thay đổi đường lối. Chúng ta thực sự không có một sự lựa chọn nào, vì thực chất tất cả các đảng đều có một lời hứa như nhau và cuối cùng đều hành động như nhau. Vì sự kinh tế hóa toàn bộ những phạm vi cuộc sống nên các chính trị gia, và cả rất nhiều người trong chúng ta, đã mất đi niềm tin ở tính khả thi trong xây dựng chính trị đối với xã hội...".
Ở nhiều quốc gia châu Âu khác, khủng hoảng dân chủ cũng lộ rõ không kém. G.Xcô-ben (Gert Scobels) - nhà báo, nhà triết học, cũng từng viết về hiện tượng này (có thể xem bài viết của ông trên trang mạng Ðài truyền hình 3 Sat - đài truyền hình công cộng, hoàn toàn không phát quảng cáo, do CHLB Ðức và CH Áo phối hợp sản xuất). Ông viết: "Cách đây không lâu, một nhà khoa học hay chu du đã nói với tôi, khắp nơi ở châu Âu, thí dụ ở I-ta-li-a, Pháp và các nước khác, ông ta cảm nhận sự thụt lùi đáng kinh sợ của nền dân chủ. Tuy vẫn cho bầu cử như từ trước đến nay. Nhưng bầu cử đã trở thành một cuộc chiến truyền thông và nhân dân nằm yên thụ động một cách lạ lùng, đôi khi thờ ơ một cách rõ ràng. Trong khi sự tham gia bầu cử giảm sút, thì đường vào giáo dục ngày càng bị sự bất bình đẳng định đoạt. Tính minh bạch của các tiến trình chính trị giảm đi, trong khi quyền lực của giới tinh hoa kinh tế lại tăng mạnh. Nhà chính trị học và xã hội học người Anh là Cô-lin Cờ-rao (Colin Crouch) đã làm rõ tính đặc trưng của khái niệm "dân chủ giai đoạn sau" (post-Democracy). Ông cho rằng, bầu cử vẫn được tiến hành, dưới hình thức nào đó thì dân chủ vẫn được lưu giữ, song những người vận động hành lang (Lobbys) thì định đoạt, trong khi nhân dân ngày càng im lặng".
Từ lâu, các nhà lãnh đạo ở phương Tây đã nhận rõ sự khủng hoảng dân chủ và hứa sẽ làm hết mình để thay đổi tình hình. Thí dụ, Tổng thống CHLB Ðức, ông Giô-a-him Gau-cơ (Joachim Gauck), ngày 23-3-2012, trong bài phát biểu tại lễ nhậm chức tuy không nhắc đến khái niệm "chán chường chính trị" hay "khủng hoảng dân chủ" nhưng có đề cập và cho rằng, đây là nhiệm vụ quan trọng, ông cương quyết hành động trong nhiệm kỳ của mình. Ông nói, hy vọng, trong tương lai "sẽ có sự tiến lại gần giữa những người nắm quyền lực và dân chúng". Trong phạm vi toàn châu Âu, khi có cơ hội, các nhà lãnh đạo của EU cũng có lời hứa tương tự. Theo bản tin của Thông tấn xã Ðức (DPA), ông G.Clốt Giăng-cơ (Jean-Claude Junker, cựu Thủ tướng Lúc-xăm-bua (Luxembourg), người mới làm Chủ tịch Ủy ban châu Âu thay ông Giô-sê Ma-nu-en Ba-rô-sô (José Manuel Barosso), trong thời gian tranh cử của mùa hè 2014, đã dành nhiều thời gian nói về vấn đề này. Nhưng quan sát tiến trình bầu cử Quốc hội tiểu bang Xắc-xông (Saxony), một tiểu bang với bốn triệu dân, đứng thứ sáu về số dân trong tổng số 16 tiểu bang của CHLB Ðức, vào ngày 31-8-2014 thì sự khủng hoảng dân chủ vẫn tiếp diễn, như theo bản tin của DPA ngày 1-9-2014, thì chỉ có 49,02% số cử tri bỏ phiếu. Nhân dịp này, ngày 6-9-2014 Báo Frankfurt khái quát đăng bài Hiện tại, tương lai của dân chủ - khủng hoảng? khủng hoảng!, trong đó có đoạn: "Ở Ðức, ở tây và đặc biệt ở Ðông Âu, sự tham gia bầu cử giảm mạnh. Ở Tây Âu, năm 1975, trung bình 82% số cử tri đi bỏ phiếu trong các cuộc bỏ phiếu quốc gia, trong năm 2012 chỉ còn 72%. Ở Ðông Âu sự tụt lùi còn nghiêm trọng hơn nhiều: từ 72% trong năm 1991 xuống còn 55% trong năm 2012... Vấn đề chính không phải là sự không tham gia bỏ phiếu, mà là tiến trình chọn lọc về phương diện xã hội kéo theo đó. Cách tính đơn giản nhưng đáng tin theo kinh nghiệm thì khi tỷ lệ tham gia bỏ phiếu giảm sẽ tăng lên sự cách biệt xã hội. Các tầng lớp phía dưới biến mất, tầng lớp trung lưu thì giữ nguyên. Nếu hỏi những người của tầng lớp phía dưới, liệu việc bầu cử của họ, sự tham gia chính trị có gây ảnh hưởng gì tới các quyết định chính trị, thì hơn hai phần ba số người được hỏi trả lời một cách thất vọng là "không". Nếu tiếp xúc với người dân của lớp trung lưu và đặt cùng câu hỏi này thì hơn hai phần ba trả lời một cách tự tin là "có"... Những gì đang lộ dần ra một cách đau đớn ở Liên hiệp châu Âu được cho là còn lớn hơn trên phương diện toàn cầu. Sự thống trị bên ngoài nhà nước quốc gia không chỉ khác đi và phức tạp hơn mà còn ít dân chủ hơn".
Ðến nay, các nhà nghiên cứu vẫn tranh luận về nguyên nhân của khủng hoảng của "nền dân chủ phương Tây". Theo họ, một trong các nguyên nhân là sự nghèo khổ của người dân, là khoảng cách rất lớn giữa người giàu và người nghèo; người nghèo ngày càng nghèo đi, người giàu ngày càng giàu thêm. Các năm qua, số người sống nghèo khổ tăng nhiều ở các nước phương Tây, đặc biệt ở Hy Lạp. Theo thống kê của các tổ chức xã hội, trong khu vực EU, cứ bốn người thì có một người sống trong nghèo khổ. Ðiều này cho thấy, dù không phủ nhận trên thực tế nhiều tinh hoa, giá trị quý báu của loài người đã ra đời từ các nước phương Tây, được nhiều nước, trong đó có Việt Nam, đã và đang tiếp nhận để xây dựng đất nước; thì cũng nên nhận thức rằng "nền dân chủ phương Tây" không phải là mô hình phổ quát để từ đó hô hào, cổ vũ một thứ dân chủ ngoại lai, nhân danh dân chủ để tuyên truyền các ý kiến đi ngược, thậm chí là ngăn cản và chống lại sự phát triển của dân tộc.
——————————
Nhân quyền thể hiện cụ thể qua cuộc sống của người dân
"Với người khác, nhân quyền có thể là một khái niệm trừu tượng, thiên về lý thuyết, hoặc đề cập tới những vấn đề lớn lao. Nhưng với tôi, nhân quyền là điều khá cụ thể, gắn liền với cuộc sống của đất nước, con người". Ðó là ý kiến trong bài viết của tác giả Hồ Ngọc Thắng từ CHLB Ðức gửi Báo Nhân Dân, xin giới thiệu để bạn đọc tham khảo.
Những tháng cuối năm 2013, thông tin từ Việt Nam đã đem đến cho tôi nhiều niềm vui, nhưng cũng có nỗi buồn. Buồn vì trận bão Haiyan gây thiệt hại rất lớn cho nhiều địa phương trên cả nước, trong đó có quê tôi. Tôi biết mỗi lần thiên tai như vậy, Nhà nước lại huy động một lượng tiền của, hàng hóa rất lớn để cứu trợ kịp thời, sau đó là tái thiết cơ sở hạ tầng bị tàn phá, giúp đỡ gia đình bị thiệt hại nhanh chóng ổn định cuộc sống. Ðó là biện pháp cấp tốc và lâu dài mà từ rất lâu rồi tôi đã nhận thấy trong chính sách kinh tế - xã hội nhất quán của Ðảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam. Nhưng, lại có rất nhiều tin vui. Một trong số đó là thông tin ngày 12-11-2013, Việt Nam trúng cử với số phiếu cao nhất trong số 14 nước thành viên mới, và lần đầu tiên trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ. Với các tổ chức, cá nhân luôn lợi dụng vấn đề nhân quyền để phê phán hay chống phá Việt Nam thì sự kiện này là một thất bại rất lớn của họ. Từ việc ghi nhận các thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm ngày càng tốt hơn những quyền của người dân trong các lĩnh vực chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa, giáo dục, tôn giáo và tín ngưỡng,... cộng đồng quốc tế đã tin cậy và bầu Việt Nam vào một tổ chức quan trọng của LHQ.
Với người khác, nhân quyền có thể là một khái niệm trừu tượng, thiên về lý thuyết, hoặc đề cập tới những vấn đề lớn lao, nhưng với tôi, nhân quyền là điều khá cụ thể, gắn liền với cuộc sống của đất nước, con người. Ðể đánh giá về nhân quyền, cần có cách nhìn khách quan, đặt trong hoàn cảnh cụ thể với điều kiện đặc thù riêng ở mỗi nước. Suy nghĩ và nhận thức của tôi về nhân quyền thay đổi theo tuổi đời và sự trải nghiệm của bản thân trong cuộc sống. Nhớ thời còn đi chân đất đến trường ở quê tôi, một vùng biển Thanh Hóa thường xuyên có bão, lụt. Một tối, nghe Ðài Phát thanh tiếng nói Việt Nam đưa tin sóng biển có thể dâng cao, mọi người trong vùng đều lo lắng, cố gắng triển khai công việc phòng chống. Nhìn đoàn thuyền, bè, mảng làm bằng những cây luồng to mà các anh chị dân quân để ngay trước nhà, mẹ tôi bảo thế là yên tâm rồi. May mắn là năm đó sóng biển không cao lắm, nhưng tôi biết nếu tình huống xấu xảy ra, gia đình tôi cũng như mọi gia đình khác sẽ được chính quyền giúp đỡ một cách nhanh chóng. Giờ nhìn lại tôi nghĩ, đó là hành động thiết thực của chính quyền nhằm bảo vệ nhân quyền của người dân. Trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại miền bắc của đế quốc Mỹ, có năm nước sông Hồng lên cao, Thủ đô Hà Nội có thể bị ngập, tính mạng của hàng vạn người bị đe dọa nghiêm trọng, vì một số đoạn trong hệ thống đê điều từng bị bom phá hỏng. Vào thời điểm đó, người Mỹ tuyên bố không úp mở là sẽ ném bom "đưa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá". Ðảng và Nhà nước Việt Nam đã nỗ lực hết sức để giúp nhân dân vượt qua thiên tai hiểm nghèo, khắc phục hậu quả bão lụt, vừa vận động nhân dân thế giới ngăn chặn hành động có tính chất hủy diệt, như ném bom đê điều. Tôi nghĩ đó cũng để bảo vệ quyền quan trọng nhất trong nhân quyền - là quyền được sống.
Từ năm 1972 đến năm 1975, tôi là chiến sĩ của QÐND Việt Nam đã trực tiếp chiến đấu tại tuyến đầu của mặt trận Quảng Trị. Tại đây, tôi đã tận mắt chứng kiến những trận bom rải thảm, những trận pháo kích có tính hủy diệt của "pháo đài bay" B52 và tàu chiến Hạm đội 7 Hoa Kỳ từ Biển Ðông. Ở đó, tôi không chỉ bị sức ép của bom, pháo mà còn rất nhiều lần khó thở đến ngất xỉu tưởng không tỉnh lại được vì đối phương sử dụng đạn pháo hóa học chứa hơi cay. Tôi đã đi qua những khu rừng bị hủy hoại do chất độc màu da cam của quân đội Mỹ rải xuống. Cũng ở đó, tôi đã từng chứng kiến những cái chết, gặp những người mẹ, người chị, những em bé cơ thể mang thương tích vì mảnh bom, pháo, bị vướng mìn của quân đội Mỹ và Sài Gòn. Thế mà nay lại có kẻ bịa đặt rồi làm rùm beng các sự kiện không có trong thực tế để vu cáo "Hà Nội vi phạm nhân quyền". La lối như vậy, họ cố tình quên ai là người mang bom đạn đến Việt Nam, và cố tình quên nhiều người dân Việt Nam chết hoặc bị thương do bom mìn còn sót lại; nhiều người phải chịu hậu quả của chất độc màu da cam. Họ cố tình làm như không biết là hiện nay, Nhà nước Việt Nam vẫn đang phải huy động nhiều sức người, tiền của để giải quyết hậu quả của chiến tranh xâm lược, như bom mìn chưa nổ, các khu vực còn ảnh hưởng của chất độc màu da cam. Tôi nghĩ, giải quyết hậu quả chiến tranh cũng là hành động vì nhân quyền, đấu tranh đòi các công ty hóa chất ở Hoa Kỳ bồi thường thiệt hại cho nạn nhân chất độc màu da cam cũng là hoạt động vì nhân quyền. Sau khi nước nhà thống nhất, Việt Nam bị cấm vận một thời gian dài, kinh tế khó khăn, Nhà nước không có đủ điều kiện cần thiết để thỏa mãn nhu cầu đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Dù hôm nay đã chấm dứt, thì vẫn phải nói rằng cấm vận là một việc làm rất vô nhân đạo, cản trở sự phát triển, không tạo điều kiện, cơ hội để Nhà nước Việt Nam bảo đảm quyền con người. Trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện chủ trương "gác lại quá khứ, hướng tới tương lai", tôi nhắc lại một vấn đề của quá khứ không phải là để khơi dậy hận thù, mà để nói rằng đang có những người đạo đức giả trong khi một mặt hò hét đấu tranh cho nhân quyền, yêu cầu "Việt Nam phải tôn trọng nhân quyền", thì mặt khác họ lại tảng lờ tình trạng trong thời gian rất dài nhiều người bệnh ở Việt Nam không đủ thuốc điều trị, nhiều nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin đang sống trong bất hạnh, đau đớn, nhiều gia đình Việt Nam đói nghèo vì hậu quả của chiến tranh.
Tôi nghĩ, vì nhân quyền là tổng thể các quan hệ xã hội trực tiếp, cụ thể liên quan đến việc thực thi quyền con người, đồng thời lại liên quan chặt chẽ với quan niệm của mỗi dân tộc và mỗi nền văn hóa, nên có cảm nhận khác nhau từ góc độ quan sát của mỗi người. Nhận thức này tôi có được sau một lần cùng gia đình đi du lịch ở Dominica - một quốc đảo ở vùng Caribe (gần Hoa Kỳ) và có nền kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào Hoa Kỳ. Kết thúc chuyến du lịch, tôi hỏi con gái và con trai, cả hai đều sinh ra rồi lớn lên ở CHLB Ðức: "Hai con thấy chuyến đi có thú vị không?" và câu trả lời của các cháu là: "Phong cảnh và thế giới thực vật giống hệt như quê nội". Ðối với tôi, qua chuyến đi tôi lại có điều kiện so sánh và càng thấy Nhà nước Việt Nam rất quan tâm tới đời sống của mọi người dân, phần lớn người dân Việt Nam sinh sống ở nông thôn hiện đã có cuộc sống khấm khá hơn nhiều. Ðưa con về thăm quê hương, tôi kể cho các con tôi chuyện quê nội bị tàn phá như thế nào trong chiến tranh phá hoại của người Mỹ. Các con tôi đều muốn đến thăm ngôi trường lần đầu tiên tôi đi học, ngôi trường nhỏ bé của tôi ngày trước đã được thay thế bằng những khu nhà mới rộng rãi và khang trang. Về nước đi thăm nhiều nơi nên tôi biết, sau chiến tranh hầu như mọi trường học, bệnh viện, bưu điện,... đều được xây mới. Nhiều quan sát khác của các con tôi sau mỗi lần về thăm Việt Nam làm cho tôi hiểu thêm rằng, không nên máy móc lấy các con số (thí dụ là về tiền bạc) để đánh giá sự phát triển nhân quyền ở một quốc gia. Một lần về quê, con gái tôi hồn nhiên nói về một chi tiết khiến tôi phải suy nghĩ, cháu nói: "Ở chợ Việt Nam, khi không có khách hàng, những người bán hàng thường hay đếm tiền và con thấy nét mặt họ rất rạng rỡ. Qua nét mặt cũng thấy họ rất vui với những gì họ có được. Ðể có suy luận đó, con tôi cũng từng chứng kiến ở CHLB Ðức cảnh những người dân nhận tiền trợ cấp xã hội hằng tháng, nét mặt buồn thiu khi cầm trong tay 500 ơ-rô - một lượng tiền không nhỏ với một số gia đình nông dân Việt Nam. Các bà, các chị bán hàng ngồi đếm những đồng tiền có thể là không nhiều, nhưng họ có niềm vui, đó là niềm vui từ lao động. Nó giúp tôi hiểu thêm rằng nếu chỉ lấy đồng tiền làm thước đo sẽ không thể hiểu tại sao Hàn Quốc là quốc gia có mức sống không kém phương Tây, nhưng số người tự tử nhiều thứ hai thế giới; Ðan Mạch được xếp hạng nhất trên thế giới về bình quân thu nhập, nhưng ở đó số lượng người tự tử cao nhất trong khu vực Bắc Âu?
Ðảng và Nhà nước đã và đang đề ra, thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội đúng đắn, thúc đẩy sự nghiệp CNH, HÐH, hội nhập quốc tế. Vì thế, vấn đề không phải là nước này, tổ chức quốc tế kia đánh giá hay bình chọn, vì người dân và cuộc sống con người luôn luôn là chủ thể, là mục tiêu cụ thể của mọi chính sách và hành động. Một việc làm thiết thực gần đây là sự phát triển quan trọng liên quan đến quyền con người trong Hiến pháp sửa đổi. Từ sự kiện này, tôi càng tin đất nước ta sẽ tiếp tục đạt được nhiều thắng lợi trong thúc đẩy các giá trị quyền con người, người dân ngày càng được hưởng tốt hơn các giá trị vật chất, tinh thần do xã hội đem lại. Ðó là bằng chứng chứng minh sự đúng đắn của Ðảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam trong việc xác định mục tiêu kinh tế - xã hội và quyết tâm cùng toàn dân hành động để đạt tới mục tiêu.
———————————
4 tháng 8, 2017
Quan hệ ngoại giao Đức-Việt sẽ ra sao sau vụ việc TXT?
Quanh vụ việc TXT, mấy ngày qua nhiều bạn hỏi tôi chủ yếu tập trung vào 3 chủ đề: Kết quả cụ thể của việc xin tị nạn của TXT như thế nào? Thực hư chuyện „bắt cóc“? Quan hệ Đức-Việt sẽ ra sao sau vụ việc?
Đây là câu trả lời của tôi:
1. Tờ Báo Miền nam Đức (Süddeutsche Zeitung) ngày 2-8-2017 cho biết, ông TXT sang Đức năm 2016 và ngày 24.07.2017 là lịch hẹn sẽ phỏng vấn tại Cơ quan Liên bang phụ trách di cư và tị nan. Như vậy có nghĩa là, ông TXT trước đó đã đến bộ phận tiếp nhận đơn. Ở đó ông đã được chụp ảnh, lấy vân tay, ký vào trang 1 của hồ sơ. Các trang tiếp theo ghi họ tên tuổi của người nộp đơn và của bố mẹ, vợ con, địa chỉ ở VN và ở Đức, tên tuổi luật sư. Lúc đó ông nhận giấy mời phỏng vấn. Có thể có một phiên dịch của văn phòng dịch thuật tư nhân hỗ trợ ông khai báo và đọc các tờ hướng dẫn về quyền lợi và nghĩa vụ của người xin tị nạn. Chỉ đến lúc phỏng vấn, cán bộ phỏng vấn mới hỏi về lai lịch, đường đi từ VN sang Đức, lý do xin tịn nạn, muốn nộp giấy tờ gì… Theo khoản 3, Điều 33 của Bộ luật về thủ tục xét tị nạn, đơn xin được coi là đã rút, nếu người nộp đơn rời lãnh thổ Đức và trở về đất nước mình, do bất cứ lý do nào. Theo Điều 32, thủ tục xét tị nạn sẽ được đình chỉ (Einstellung). Thông thường, sau 4 tuần mọi chuyện được kết thúc. Hồ sơ thủ tục xin tị nạn được lưu trữ 10 năm và sau đó được hủy. Như vậy ông TXT chưa được hưởng quy chế tị nạn chính trị hay được ở lại vì lý do nhân đạo. Liên quan đến câu hỏi, liệu TXT đã cung cấp thông tin tình báo, tôi xin trích dẫn bài báo của tờ Thế giới (Welt) phiên bản điện tử đăng hôm 04.07.17 „Tình báo cùng nghe“. Bài báo trích dẫn lời Giám đốc Cơ quan Liên bang phụ trách di cư và tị nạn: Từ vài tháng nay, khi phỏng vấn xin tị nạn, trong một số trường hợp, cán bộ cơ quan tình báo ngồi cùng bàn để nghe và nếu cần sẽ đặt câu hỏi. Như vậy có thể đoán, TXT chưa gặp TB Đức.
2. Cho đến nay, các cơ quan Đức không có thể đưa ra bất kỳ một bằng chứng nào cho thấy ông TXT „bị bắt cóc“. Ngày 02.08.2017, hãng thông tấn xã Đức dpa đưa tin, „nhân viên điều tra ở Berlin phỏng đoán… bị bắt cóc“. Từ nguyên gốc tiếng Đức trong bài viết là „vermuten“. Lời phát biểu của ông Winfrid Wenzel, phát ngôn viên của công an Berlin: „Đây là một trường hợp nghi ngờ“ (tiếng Đức „Das ist ein Verdacht“). Trường hợp nghi ngờ cao hơn là nghi ngờ khẩn cấp (dringender Verdacht). Một điều phi lý trong quả quyết „bắt cóc“ là chi tiết „có người thấy ông TXT bị lôi vào xe ô tô“. Tại sao cảnh sát không cho giải cứu ngay lúc đó bằng cách báo động truy lùng khẩn cấp vòng quanh khu vực với phạm vi rộng, từ chuyên môn của cảnh sát Đức cho biện pháp này là Ringfahndung. Tuyên bố của Bộ NG Đức chủ yếu dựa vào phát biểu của bà LS đại diện cho TXT trong thủ tục xét tị nạn. Bà ta không phải là nhân chứng, bà chỉ nghe người khác kể lại. Danh tính người đó cũng không được công bố. Các cơ quan sau chịu sự lãnh đạo của ông Bộ trưởng Bộ nội vụ Liên bang: cảnh sát LB (tức CA biên phòng), tình báo đối ngoại, tình báo đối nội, Cơ quan Liên bang phụ trách di cư và tị nạn, cục kỹ thuật hình sự Liên bang, đơn vị đặc nhiệm GSG 9. Cho đến nay, trên trang mạng của mình cũng như trên báo, Bộ nội vụ Liên bang không đưa ra bất kỳ phát biểu nào liên quan đến vụ việc TXT.
3. Khi nhận định về quan hệ ngoại giao Đức-Việt trong thời gian tới phải chú ý đến các yếu tố sau: trong con mắt của người Đức ông TXT là một người như thế nào? Báo chí Đức gọi ông ta là một „Geschaeftsmann“, người kinh doanh, trong quá khứ ông là Phó chủ tịch một tỉnh nhỏ, như vậy ông ta chỉ là cựu chính trị gia cấp địa phương, ông nổi tiếng vì tham nhũng, ham chơi, thí dụ xe tư nhân tiền tỉ gắn biển KS chỉ dùng cho xe công vụ. Lãnh đạo Bộ nội vụ Liên bang hiện nay là người của đảng CDU, Lãnh đạo Bộ NG là người của đảng SPD. Ngày 27.09.17 Đức bầu cử QH và tháng 10.2017 có CP mới. CP mới sẽ quyết định về đường lối NG mới. Chưa biết đảng nào sẽ thắng cử, nhưng chắc chắn, không vì TXT mà nước Đức làm xấu đi quan hệ toàn diện với Việt Nam. Tôi tin rằng, vài ngày nữa, chậm nhất vài tuần, sự kiện TXT sẽ chìm trong sự lãng quên. Cũng chẳng hay ho gì cho Nhà nước Đức, nếu ai đó nhắc lại vụ việc này. Hiện nay người Đức đang quan tâm đến rất nhiều vấn đề khác. Người được lợi nhiều nhất có lẽ là bà LS đại diện cho TXT. Tên bà được nhắc trên báo và truyền hình và đó là quảng cáo rộng rãi mà không tốn tiền, chỉ tốn nước bọt. Nhưng bọn phản động trong và ngoài nước còn khai thác đề tài này lâu hơn.
https://www.facebook.com/kimdung.nguyen.94695/posts/850856908400869
Comments
Post a Comment